Phát Hiện Sớm, Điều Trị Và Phòng Ngừa Ung Thư Vú

GS BS Nguyễn Chấn Hùng

Bệnh viện Ung bướu TPHCM

1. Những phụ nữ nào có nguy cơ bị ung thư vú?

Các nghiên cứu cho thấy nguy cơ bị ung thư vú tăng lên khi người phụ nữ càng lớn tuổi. Dưới ba mươi tuổi hiếm khi bị ung thư vú. Phần lớn ung thư vú xảy ra ở phụ nữ trong khoảng tuổi 35-45. Ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất của phụ nữ trên toàn thế giới. Năm 2002, toàn cầu có 1,15 triệu người bị ung thư vú, số người bị ung thư vú còn sống sau 5 năm là 4,4 triệu. Phụ nữ ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ có nguy cơ bị ung thư vú rất cao so với phụ nữ ở Châu Á. Hiện nay ung thư vú là loại ung thư có nguy cơ bị mắc cao nhất đối với chị em phụ nữ nước ta. Theo số liệu mới nhất, hàng năm ở Hà Nội, cứ 100.000 phụ nữ thì có 30 người mới bị ung thư vú, ở TPHCM thì có 20 phụ nữ.

Các yếu tố sau đây càng làm tăng nguy cơ bị ung thư vú: Có tiền sử gia đình bị ung thư vú (mẹ, chị em ruột); có vài xáo trộn của tuyến vú; có xáo trộn về di truyền như: do sự thay đổi (đột biến) của vài gen (BRCA 1, BRCA 2 và vài gen khác).

Các yếu tố có liên hệ với sự gia tăng nguy cơ: Càng chịu tác động lâu dài của estrogen thì nguy cơ càng cao, thí dụ như phụ nữ bắt đầu có kinh sớm (trước 12 tuổi) và mãn kinh trễ (sau 55); dùng nhiều liệu pháp nội tiết thay thế trong thời gian dài; không bao giờ sinh con; có con đầu lòng trễ, sau 30 tuổi; độ đậm đặc của mô vú: vú chứa nhiều mỡ ít có nguy cơ hơn; hút thuốc, uống rượu: phụ nữ hút thuốc và uống rượu tăng nguy cơ bị ung thư vú; chế độ dinh dưỡng: ăn nhiều thịt, chất béo; cơ địa béo phì; độn vú có nguy cơ?

2. Làm sao để phát hiện sớm bệnh?

Sự rà tìm (tầm soát) để phát hiện sớm ung thư vú thực sự chứng tỏ hiệu quả, làm giảm tử vong do ung thư vú, đó là kinh nghiệm của các nước phương Tây, đặc biệt là của Mỹ. Các phụ nữ đã tham gia tích cực chương trình phát hiện sớm ung thư vú bằng cách chụp nhũ ảnh để rà tìm và khám lâm sàng tuyến vú định kỳ (do bác sĩ hoặc chuyên viên khám vú). Một số người còn tự khám tuyến vú nữa.

Chụp nhũ ảnh để rà tìm

   

Khác với phương pháp chụp nhũ ảnh để chẩn đoán. Đây là phương pháp tốt nhất để phát hiện ung thư vú ở giai đoạn sớm, lúc người bệnh chưa có triệu chứng gì cả. Nhũ ảnh là một loại X-quang. Chụp nhũ ảnh để rà tìm được dùng để tìm kiếm các xáo trộn ở vú của phụ nữ lúc chưa có dấu hiệu ung thư. Nhũ ảnh có thể cho thấy vài đốm vôi li ti trong vú, đây có thể là triệu chứng sớm của ung thư. Nhũ ảnh cũng có một số hạn chế, có thể bỏ sót vài ung thư (âm tính giả) hoặc tìm thấy các dấu hiệu ung thư mà thực sự lại là xáo trộn lành tính (dương tính giả). Hiện nay tại TP.HCM, chưa có chương trình rà tìm ung thư vú bằng nhũ ảnh. Cần xây dựng một chương trình tầm soát ung thư vú phù hợp với hoàn cảnh kinh tế xã hội của nước ta. Lưu ý là chụp nhũ ảnh đôi khi rất đau vì bộ ngực nhỏ hoặc lép và bỏ sót bướu hoặc ung thư.

Siêu âm

Là xét nghiệm trong tầm tay, không độc hại. Nhiều bác sĩ chẩn đoán hình ảnh đã góp phần đáng kể trong việc giúp phát hiện các loại xáo trộn của vú bao gồm cả ung thư. Hiện nay, các bác sĩ siêu âm tại TP.HCM đã tích lũy được kinh nghiệm, có thể phát hiện sớm một số ung thư vú qua siêu âm.

Tự khám vú

Nhiều chuyên gia uy tín trên thế giới và ở Mỹ nhận thấy rằng việc tự khám vú giúp ích cho phụ nữ trong việc phát hiện sớm ung thư vú và Hội ung thư Mỹ vẫn khuyên phụ nữ nên thực hành tự khám vú. Trong hoàn cảnh nước ta, biện pháp tự khám vú đã cho thấy là nhờ nó mà có rất nhiều phụ nữ đã đến bác sĩ khám và được định bệnh ở giai đoạn còn điều trị tốt.

3. Bệnh có những triệu chứng nào?

Ung thư vú ở giai đoạn sớm thường không gây đau đớn cho người bệnh. Thực vậy, khi mới bắt đầu phát triển ung thư vú có thể không gây triệu chứng gì cả, nhưng khi khối u của ung thư vú lớn lên thì nó có thể gây ra các xáo trộn mà người phụ nữ cần lưu ý:

- Một cục hoặc một chỗ dầy lên ở trong hoặc gần vú hay là ở trong nách.

- Vú to ra hoặc có thay đổi hình dáng của vú, có chất dịch ở núm vú hoặc núm vú thụt vào.

- Da vú giống da cam (vỏ cam).

- Thay đổi ở da vú, quầng vú, núm vú (nóng, đỏ, sưng, ngứa).

ỗi phụ nữ nên đến bác sĩ khám khi có bất cứ triệu chứng nào kể trên. Thường đa số không phải là ung thư, nhưng phải để bác sĩ xem, nhờ đó có thể chẩn đoán và điều trị sớm bệnh.

Phụ nữ trên 30 tuổi, sờ nắn trong vú thấy có một cục u cứng không đau thì nên đi khám bác sĩ ngay, nếu được bác sĩ chuyên khoa ung bướu thì càng tốt. Dầu bận bịu việc gia đình, các cô các chị nên nhín chút thời giờ để đi khám sức khỏe định kỳ, khám toàn diện kể cả khám ngực, mỗi năm một lần và nên tự khám ngực hàng tháng hoặc vài tháng.

Vì sao cần chú ý ở tuổi trên 30? Ung thư vú có thể gặp từ tuổi trên 20, nhưng đó là những trường hợp hết sức hiếm hoi nên một thiếu nữ dưới 25 tuổi có một khối bướu dù rất to ở vú thì hầu như chắc chắn là một bướu lành.

Tại sao cứng và không đau? “Tưởng ung thư thì phải đau chớ?”. Nhiều người lầm tưởng như thế nên nhiều khi rờ thấy rõ một cục ở trong bướu từ khi bằng ngón tay út mà để lớn tới cỡ trái quýt vì “Tôi đâu có biết, thấy không đau điếc gì, mà cũng ăn ngủ như thường”. Cần phải biết là bướu ung thư thì cứng chắc, không đau và người bệnh thường vẫn khỏe mạnh: thời kỳ ban đầu ung thư rất im lìm, rất hiểm, làm ra vẻ rất hiền. Còn bướu lành thường tròn, rờ thấy bề mặt trơn láng “chạy tới chạy lui” dưới ngón tay khám, có thể hơi lớn thêm và hơi đau nhức khi gần tới kinh.

4. Làm thế nào để xác định bệnh?

Để xác định là người bệnh có mắc bệnh ung thư vú hay không, người thầy thuốc sẽ thực hiện các bước sau:

Khám lâm sàng tuyến vú: Đòi hỏi kỹ thuật khám nghiêm túc, kinh nghiệm của người thầy thuốc. Bác sĩ sẽ đánh giá cục u trong vú là lành tính hay ác tính và cho thực hiện các xét nghiệm cần thiết.

Nhũ ảnh: Cung cấp nhiều dữ kiện quan trọng về khối bướu cho người thầy thuốc. Phân biệt loại nhũ ảnh để rà tìm và nhũ ảnh chẩn đoán.

Siêu âm: Siêu âm giúp phân biệt cục u là một khối lỏng (nang) hoặc khối đặc (lành hoặc ác). Các bác sĩ siêu âm có thể giúp định vị các tổn thương nhỏ để hướng dẫn chọc hút bằng kim nhỏ hoặc sinh thiết. Việc kết hợp lâm sàng, siêu âm và nhũ ảnh (nếu có được) sẽ giúp đỡ nhiều cho việc chẩn đoán.

Sinh thiết: Chọc hút bằng kim nhỏ, FNA (Fine Needle Aspiration). Đây là phương pháp rất phổ cập, gúp đỡ nhiều cho việc chẩn đoán bệnh. Sinh thiết bằng kim (Needle biopsy) có giá trị rất lớn. Sinh thiết mổ, thực sự là cuộc mổ, dùng sinh thiết một phần bướu hay sinh thiết trọn bướu là do bác sĩ cân nhắc.

5. Thầy thuốc sẽ làm gì khi đã xác định là ung thư vú?

Thầy thuốc cần phải biết bản chất của ung thư mà y khoa gọi là loại giải phẫu bệnh. Loại ung thư vú thường gặp là carcinôm ống tuyến vú (từ chuyên môn gốc tiếng Anh là carcinoma), đây là ung thư phát xuất từ lớp lót mặt trong của các ống dẫn sữa. Ngoài ra thầy thuốc còn phải xác định một điều quan trọng nữa là ung thư còn tại chỗ hay đã xâm lấn sang các mô lân cận, y khoa thường gọi là Carcinôm không xâm lấn và Carcinôm xâm lấn.

Nếu các tế bào ung thư không xâm nhập vào các mô lân cận và vẫn ở trong các ống dẫn hay trong thùy thì ung thư được coi là carcinôm tại chỗ. Loại ung thư này còn quá nhỏ để tượng hình thành cục u hay cục bướu vì vậy thường khó phát hiện qua khám lâm sàng.

Phần lớn các ung thư vú đều xâm lấn. Khoảng 95% các ung thư vú đều là dạng xâm lấn với các loại giải phẫu bệnh khác nhau.

Các xét nghiệm đặc biệt: Các thụ thể nội tiết (thụ thể estrogen và progesteron ER, PR) giúp người thầy thuốc có thêm lựa chọn là có dùng liệu pháp nội tiết hay không. Có các xét nghiệm giúp xác định tiên lượng bệnh như X-quang, dấu hiệu CA 15.3… Ở các phòng xét nghiệm tiên tiến người ta còn làm cả xét nghiệm gen HER-2.

6. Điều trị bệnh như thế nào?

Thầy thuốc chuyên khoa sẽ đánh giá mức độ nặng nhẹ, sự lan tràn của bệnh cũng như hoàn cảnh, tình trạng bệnh nhân để lựa chọn biện pháp điều trị phù hợp.

a. Đánh giá mức độ nặng nhẹ:

Tùy theo tình hình lan tràn của căn bệnh mà người thầy thuốc sẽ xếp thành các nhóm sau để định kế hoạch trị liệu.

- Nhóm A: các ung thư còn nhỏ, kích thước dưới 2 cm, không rờ thấy hạch nách và các xét nghiệm không thấy có sự lan tràn bệnh toàn thân (tức không có di căn xa).

- Nhóm B: các ung thư với khối bướu tại chỗ có kích thước lớn hơn 2 cm, có kèm theo hạch nách hoặc không, vẫn chưa có di căn xa.

- Nhóm C: các ung thư ăn lan tại chỗ rất nhiều hoặc các ung thư có di căn xa.

Thực ra thầy thuốc chuyên khoa dựa vào một bảng xếp hạng quốc tế để xếp loại ung thư gọi là xếp hạng TNM.

b. Điều trị:

Về cơ bản có hai mục tiêu điều trị:

(1) Điều trị tại chỗ-tại vùng nhắm vào khối bướu nguyên phát và các nhóm hạch tại vùng kế cận.

(2) Trị liệu toàn thân (thường được gọi là trị liệu bổ sung) nhằm tấn công căn bệnh đã lan khắp người.

   

Phẫu trị: Là phương pháp thường được dùng nhất với ung thư. Đoạn nhũ (cắt toàn bộ tuyến vú) thường được dùng nhất. Trong những năm gần đây có rất nhiều thay đổi về các phương pháp mổ: phẫu thuật ngày càng bảo tồn hơn và hợp lý hơn, phẫu thuật tái tạo tuyến vú ngày càng hoàn chỉnh.

   

Xạ trị: Phác đồ gồm phẫu thuật bảo tồn và xạ trị đã trở thành phác đồ chuẩn dùng cho một số người bệnh. Trước khi phẫu trị, người ta có thể dùng xạ trị riêng lẻ hoặc phối hợp với hóa trị hoặc liệu pháp nội tiết để diệt bớt tế bào ung thư là làm khối bướu nhỏ đi. Cách này áp dụng cho các trường hợp mà bướu vú qúa lớn hoặc khó dùng phẫu trị để bứng đi.

   

Hóa trị: Dùng thuốc để giết các tế bào ung thư. Hiện nay đa hóa trị (phối hợp nhiều thuốc) đã thành thường quy. Sự hiểu rõ sinh học tế bào giúp cho hóa trị ung thư ngày càng có cơ sở vững chắc và hiệu quả. Nhiều thuốc mới là các thuốc nâng đỡ, giúp giảm phản ứng phụ của hóa trị.

Liệu pháp nội tiết: Ngăn cản không cho các tế bào ung thư được tiếp liệu các hocmon mà chúng cần để tăng trưởng. Liệu pháp này đang chứng tỏ vai trò đặc biệt của nó trong điều trị ung thư vú.

Liệu pháp sinh học: Một thành tựu đầy ý nghĩa là thuốc Herceptin (Trastazumab-một kháng thể đơn dòng) nhằm vào các tế bào ung thư nào có quá nhiều một loại protein tên là HER-2. Khi khóa tay gen HER-2, Herceptin giúp làm chậm lại hoặc làm dừng lại sự tăng trưởng của các tế bào ung thư này.

- Đối với các ung thư còn nhỏ (nhóm A), điều trị chủ yếu là mổ theo phương pháp gọi là phẫu thuật đoạn nhũ gồm việc cắt bỏ toàn bộ vú và nạo hạch nách. Và tuyệt diệu hơn nữa, là chỉ lấy khối bướu rồi cho xạ trị tiếp theo, nghĩa là vẫn giữ nguyên được bộ ngực.

- Đối với các ung thư nặng hơn (nhóm B), không thể tránh được phẫu thuật đoạn nhũ. Nếu quan sát trên kính hiển vi mà thấy ung thư có xâm lấn vào hạch nách thì thầy thuốc có thể cân nhắc để dùng liệu pháp bổ sung, lúc đó người bệnh sẽ được bác sĩ báo cho biết là cần chiếu tia thêm hoặc cho thuốc thêm (xạ trị sau mổ hoặc hóa trị hỗ trợ).

- Khi khối bướu đã ăn lan quá nhiều và cho di căn xa (nhóm C) thì thầy thuốc phải chọn cách trị liệu toàn thân bằng các phương pháp nội khoa (hóa trị, nội tiết tố hoặc liệu pháp miễn dịch). Sau đó người bệnh có thể được trị liệu tại chỗ-tại vùng (xạ trị hoặc phẫu trị, cuộc mổ lúc này chỉ có vai trò thứ yếu như cắt bỏ tuyến vú lở loét hôi thối). Chắc chắn kiểu trị liệu này làm cho bệnh nhân phải chịu đựng nhiều cả về tinh thần lẫn thể chất.

- Xong đợt điều trị, người bệnh phải chịu khó để thầy thuốc theo dõi đều đặn (gọi là theo dõi định kỳ, hai hoặc ba lần mỗi năm). Điều này rất có lợi, một mặt bác sĩ có dịp để ý diễn tiến căn bệnh, mặt khác nếu có di chứng và các biến chứng thì kịp thời điều trị (mổ xong có thể bị sưng tay, đau ở nách, tức ngực…).

c. Kết quả trị liệu:

Nhìn chung có thể tóm tắt tỉ lệ khỏi bệnh 5 năm như sau:

- Nhóm A: khoảng 80-90%

- Nhóm B: khoảng 40-75% (khối bướu càng nhỏ càng ít hạch di căn, kết quả càng tốt)

- Nhóm C: tỉ lệ khỏi bệnh khoảng 15%, nhưng càng ngày kết quả trị liệu càng khá hơn và quãng đời còn lại của bệnh nhân ngày càng được lo thoải mái hơn.

7. Có thể tái tạo lại tuyến vú sau khi đã bị cắt bỏ vì ung thư?

   

Hiện nay ở nhiều nước, nhờ sự tiến bộ vượt bậc của ngành tạo hình và thẩm mỹ, để trả lại dáng vẻ nữ tính, việc tạo hình vú ngày càng giúp đỡ nhiều cho người bệnh, có thể đem lại dáng vẻ bộ ngực bình thường dưới lớp áo. Vì vú tái tạo thường nhỏ hơn vú bên kia nên có khi bác sĩ tạo hình phải thực hiện cuộc mổ làm nhỏ bớt vú lành.

8. Một số thông tin mới đáng phấn khởi về ung thư vú

Tử suất, tức tỉ lệ chết do ung thư vú đang giảm đi ở một số nước như Hoa Kỳ, Canada, Anh: tử suất giảm 1-2% mỗi năm. Lý do: do thay đổi lối sống; chẩn đoán sớm (phụ nữ lưu tâm hơn nên tham gia rà tìm tích cực); cải thiện các liệu pháp- đặc biệt các liệu pháp hỗ trợ toàn thân. Để giữ được đà này cần phải mở rộng việc rà tìm để phát hiện được nhiều ung thư vú ở giai đoạn sớm. Đã có nhiều cải tiến trong việc điều trị ung thư vú, đặc biệt là việc dùng rộng rãi các liệu pháp hỗ trợ toàn thân. Đã có biện pháp phòng ngừa ung thư vú bằng thuốc, ở các bệnh nhân có nguy cơ cao bị ung thư vú thì liệu pháp dùng thuốc Tamoxifen giúp làm giảm xuất độ mắc ung thư. Đối với việc phẫu trị ung thư vú, có khuynh hướng ngày càng điều trị bảo tồn hơn, do đó ít gây phiền phức và khổ tâm hơn cho người bệnh vì có thể giữ được tuyến vú. Cho thuốc trước mổ giúp làm giảm khối bướu để có thể chọn lựa mổ bảo tồn vú. Tái tạo vú sau khi đoạn nhũ tiết kiệm da là phương pháp mổ tạo hình vú mới nhất.

9. Tự khám vú như thế nào để phát hiện sớm bệnh?

Phụ nữ nên tự khám ngực mình lúc mới sạch kinh, nếu đã tắt kinh thì khám hàng tháng. Khi tự khám đều đặn chị em sẽ biết rõ tình trạng của mỗi bên vú, do vậy rất dễ phân biệt được đâu là bình thường, đâu là bất thường.

Cách tự khám vú đúng:

- Đứng trước gương, ở trần, cánh tay buông xuôi hai bên hông, rồi đổi tư thế: hai tay để phía sau mông, nghiêng nhẹ người tới trước. Quan sát cả hai vú xem có thay đổi gì về kích thước của vú (một bên lớn hơn thường lệ, hoặc teo nhỏ lại), da vú (da cam, da lõm xuống). Ấn nhẹ núm vú xem có máu hoặc chất dịch tươm ra ở đầu vú không.

- Nằm ngửa, kê gối hoặc khăn xếp lại dưới vai bên phải, tay phải để sau ót, dùng các ngón tay trái (bàn tay xòe thẳng), nhẹ nhàng ép sát tuyến vú vào thành sườn, bắt đầu từ phần trên, rồi đến phần dưới của vú, cuối cùng là núm vú, nhằm tìm một cục u (khối u, khối bướu). Khi khám vú trái thì đổi ngược tư thế lại.

- Khám vùng nách để tìm hạch.

Nhưng điều quan trọng nhất là tự khám cho đúng cách vì lắm khi thầy thuốc chuyên môn khám kỹ lại thì chẳng có cục u cục bướu nào cả. Điều này rất thường gặp. Nên nhớ, lấy hai ngón tay kẹp hai tuyến vú hoặc dùng cả mấy ngón tay bóp nặn cả vú thì thường thấy có khối bướu, nhất là các thiếu nữ ngực nảy nở, thực ra đó là tuyến sữa bình thường trong vú và nhất là vào lúc gần có kinh. Khám như vậy là không đúng cách. Nên khám khi đã sạch kinh, “ngực” ít căng, phải dùng bàn tay xòe với các ngón tay thẳng đè tuyến vú áp vào thành sườn, lần lượt rà khắp cả tuyến vú, nếu thấy có cục cộm rõ thì mới đúng là cục u.

10. Nên tránh những cách trị liệu không đúng nào?

Các thầy thuốc chuyên khoa thấy cần phải giải bày và khuyên can bà con về các kiểu trị bệnh có khi không hiệu quả gì, tốn tiền mà lại rất có hại, làm bệnh ung thư bùng phát ra và diễn tiến trầm trọng. Do vậy, bà con cần TRÁNH các cách trị liệu không đúng dưới đây.

Đừng bóp bể trái chàm

Thấy một cục u trong vú và cho nó là trái chàm (“Trái chàm là gì?” Không ai biết, chỉ nghe ông bà cô bác nói vậy là nghe vậy.) rồi mong dùng tay bóp cho nó tan đi. Trái chàm chẳng qua là tuyến sữa phì đại, bóp chỉ phí công thôi. Nếu là bướu lành thì bóp không bể đâu mà phải mổ lấy bướu, nhưng điều có nguy hại tới tính mạng mà không ai ngờ được là nếu trái chàm này là ung thư thì nó sẽ bùng phát lên.

Không nên đắp thuốc rút mủ, lấy cùi

Thầy thuốc chuyên khoa tuy rất quen “chịu đựng” nhưng nhiều khi phải lắc đầu thở dài, hoặc bề ngoài có vẻ bình tĩnh mà trong dạ bùi ngùi khi đi thăm trại bệnh ung thư vú.

Cứ khoảng 10 người bệnh thì có tới 3 người mang vú lở loét, thậm chí hôi thúi vì nghe bà con bày biểu đắp thuốc (thuốc dán, thuốc gia truyền) và giặt lá cây (lá sống đời, lá đu đủ, cây chó đẻ, hột lình lịch, cây xuyên tâm liên, lá vòi voi…) để rút mủ lấy cù. Ban đầu người bệnh rờ trong ngực chỉ thấy trái chàm nhỏ bằng đầu ngón tay cái đến khi thấy da vú lở loét thì mừng, thấy chảy máu thì cho là máu độc ra. Người bệnh không biết là bệnh bị kích thích, bùng dữ lên như thế này thì thầy thuốc chuyên khoa chỉ còn cách trị liệu tạm bợ, vì đã “chọc” nó lên làm cho ung thư thời kỳ I tiến qua thời kỳ III hoặc IV chỉ trong vài tháng. Nhưng lúc này thường nhiều chị em cô bác vẫn chưa chịu đến bệnh viện đâu, ở nhà nán chờ cho “cùi” ra, trong lúc này người bệnh vẫn thấy trong người bình thường, băng kỹ vú lại bằng bông gòn hoặc quấn vải, vẫn đi lại lo việc nhà, cấy gặt hoặc phụ giúp “ba sắp nhỏ”. Đúng là bà con chưa được cảnh giác về tính âm thầm và hiểm ác của ung thư vú.

Không nên châm chích cắt lễ

Thường thì phụ nữ không dễ gì cho chích vào ngực mình, dầu có bệnh gì đi nữa. Vậy mà khi một bà thầy hay ông lang lý luận “Cục u nhỏ cỡ đó, mà không đau, do máu độc chớ gì” thì các chị yên tâm và rất tin tưởng để cho châm cứu (thật ra không đúng là châm cứu mà chỉ dùng kim châm ngay vào bướu vú) hoặc cắt lễ. Đâu có ai ngờ, chỉ một vài tháng sau, cục u to lên, chiếm gần hết vú, cứng và đỏ ửng, hạch nách rờ thấy cộm lên. Đó là tình trạng bùng phát theo từ y học, còn nếu dùng từ của bà con thì là chọc nó dữ lên, chọc trúng ổ kiến lửa.

11. Thế nào là các bệnh lành tính của vú?

Không mấy chị em phụ nữ biết rõ về ung thư vú nhưng lại bị ám ảnh bởi bệnh này rất lớn.

Cứ thấy gì là lạ trong ngực là sợ ung thư mà lại e thẹn, giữ lấy nỗi lo âu một mình, lắm khi mất ăn mất ngủ, sụt cân vì một dấu hiệu… chẳng hề gì. Biết được các bệnh thông thường của tuyến vú, các chị sẽ trút được nỗi lo sợ và cũng biết được khi nào đáng lo.

Nên nhớ điều quan trọng là các triệu chứng rầm rộ, lồ lộ (đau nhức, vú to) thì không phải do ung thư vú (lúc ban đầu), còn ung thư thì lại âm thầm một cách rất “hiểm ác” (cục u nhỏ, không đau, vú bình thường).

Dưới 30 tuổi rất hiếm người bị ung thư vú, còn dưới 25 tuổi hầu như không có.

Cháu gái khoảng 10-12 tuổi, một bên ngực hơi u lên, thường ở vùng giữa vú đau chút chút. Mẹ cháu rất lo sợ “Vì nếu dậy thì sớm thì phải lớn cả hai bên ngực chứ!”. Không có gì phải lo bệnh ung thư, nên để bác sĩ theo dõi, thường mọi việc đâu sẽ vào đấy, chỉ cần ít thuốc chống đau để làm… mẹ cháu an tâm. Nhớ đừng nghe lời bày biểu mà chích thuốc kích tố nam (durabolin, testoterone). Cũng đừng cho người ta mổ lấy đi “cục u” nhỏ ở núm vú.

Thiếu nữ ở tuổi đôi mươi rờ thấy trong ngực có một vài cục tròn, láng, cỡ hột đậu phộng, hột nhãn, hột mít, đụng tới thì chạy chỗ khác, đó là loại bướu lành thường gặp nhất ở các thiếu nữ mà y học gọi là bướu sợi-tuyến. Chẳng có gì đáng lo ngại, ngay cả khi thấy “nó” hơi đau hoặc hơi lớn lên khi tới kỳ kinh. Không ít thiếu nữ thấy có đôi ba cục lớn nhỏ khác nhau ở một vú, cũng có khi ở cả hai vú. Bác sĩ chuyên khoa chỉ cần chích thuốc tê, mổ lấy trọn bướu, cố gắng giữ cho sẹo mổ nhỏ. Đây chẳng phải là một bệnh, cũng chẳng phải là một tổn thương, chẳng qua là một cái gì đó “chưa hoàn chỉnh” phì đại khu trú tại chỗ nào đó của tuyến vú. Bướu sợi-tuyến là cái gì đó gần gần với tình trạng bình thường. Các từ bướu xơ, u xơ là không chính xác, không nên dùng.

Nang vú (Bọc dịch trong vú)

Nang chỉ là một bọc chứa chất dịch. Bọc này có được là do một đoạn của ống dẫn sữa bị nở ra. Số lượng nang này nhiều ít tùy người và tùy lúc, kích thước lớn nhỏ không đều, đường kính từ vài milimét đến vài centimét, hoặc to hơn nữa. Chỉ các nang nào tụ đầy nước và to đến cỡ nào đó hoặc nằm sát dưới da thì mới rờ thấy được. Các nang này thường chỉ gặp ở phụ nữ trong khoảng tuổi 40-50. Nang vú không thành bệnh ung thư. Hơn nữa, có nang vú cũng không tăng nguy cơ bị ung thư. Trước tiên bác sĩ sẽ khám kỹ, sau đó để định bệnh chính xác thì dùng kim nhỏ rút chất dịch. Hiện nay siêu âm giúp cho bác sĩ chẩn đoán bệnh nang vú chính xác đến 99%. Vậy là sau khi nhờ siêu âm để định bệnh rõ ràng thì bác sĩ sẽ chọc rút dịch trong nang. Việc này rất đơn giản “Xẹp hết rồi, chị lấy tay rờ thử coi!”. Ủa sao trước đây nó cứng lắm sao mà lại là nước.

Vú đau

Có khi cả hai vú đau, khám thấy có những mô sữa dày lên (không có cục u rõ) được gọi là dị sản tuyến vú, không phải bệnh ác tính. Đây là tình huống làm khó cho người bệnh rất nhiều và cho cả thầy thuốc. Sau khi đã khám rất kỹ, giải thích rõ rồi nhưng đa số người bệnh vẫn chưa hài lòng, vẫn nghĩ là bác sĩ giấu sự thật. Nên nhớ rằng khi bị đau như vậy và rờ thấy một vùng mô sữa dày lên thì phụ nữ rất lo sợ ung thư, nhưng sự thật thì không phải vậy. Chứng đau vú này lại khá dai dẳng, dễ làm suy sụp tinh thần của các bà các chị, thầy thuốc phải kiên trì săn sóc và giải thích.

Chảy nước, chảy máu ở đầu núm vú

Từ chuyên môn gọi chung là ứa dịch hoặc tiết dịch núm vú gặp ở thiếu nữ tuổi đôi mươi cho đến phụ nữ tuổi ngoài 40.

Có các nguyên nhân sau đây: dãn ống sữa, viêm ống sữa, bướu lành trong ống sữa, và ung thư trong ống sữa. Nghe nói có thể do ung thư thì ai cũng rất sợ khi thấy có ứa dịch ở núm vú, nhưng phân tích kỹ thì thấy phần lo rất ít. Khi nặn mà có chất dịch như máu đỏ đậm thì sao? Phần lớn ở tuổi dưới ba mươi thì cũng có nguyên nhân là lành tính. Thấy có gì khả nghi thì mổ lấy ống sữa. Có ba tình huống: dãn ống sữa, bướu lành và ung thư. Nên nhớ khả năng bị ung thư cũng hiếm hơn hai tình huống trên. Và có ung thư trường hợp này cũng dễ trị vì bướu còn nhỏ.

Bọc sữa

Đang thời kỳ cho con bú, nhiều bà mẹ rất băn khoăn khi rờ ngực thấy có một khối tròn, mềm như trái nho hoặc lớn hơn, bóp thì nhão nhão. Đó là một bọc sữa: sữa ứ lại do một ống sữa bị tắt.

Không nên để cho y tá hoặc bác sĩ mổ rạch bọc sữa như mổ áp xe, vì hoặc là sẽ phình lại như cũ nếu chỉ rạch nhẹ, hoặc là sữa trong vú sẽ chảy ào ạt làm khó lành vết thương, thậm chí bị nhiễm trùng nếu vết mổ khá rộng.

Bác sĩ chuyên khoa khi chẩn đoán chính xác sẽ khuyên bà mẹ nên dứt sữa nếu cháu đã bú trên 10 tháng, bọc sữa sẽ nhỏ từ từ và sau vài tháng có thể lặn mất. Còn nếu bọc teo lại nhưng vẫn không lặn mất thì bác sĩ có thể mổ lấy bọc ra do người bệnh quá ác cảm cho là bệnh ác tính. Còn nếu cháu mới bú được vài tháng thì bà mẹ nếu quá thương con có thể vẫn tiếp tục cho con bú nhưng phải chấp nhận bọc sữa có thể to lên, gây vướng víu khó chịu, đôi khi còn bị đau nhức vì bội nhiễm, bấy giờ đành phải dứt sữa.

Bất thường của núm vú và quầng vú

Núm vú bị co kéo hay còn gọi là núm vú bị “lúm” hay là vú đỉa. Chứng này có thể xuất hiện ở bất cứ tuổi nào, có khi đã thấy từ lúc bắt đầu có “ngực” gọi là bẩm sinh. Lúm núm vú khá thường gặp, khoảng mười phụ nữ thì có một người có lúm núm vú, một phần hoặc toàn phần, một hoặc hai bên. Đây cũng được kể là bình thường do có sự thay đổi của tuyến sữa ở vùng nằm sau núm vú. Tuy nhiên đôi khi chứng này báo hiệu một ung thư bắt đầu. Nên đi khám bác sĩ khi thấy núm vú bất thường so với trước đó.

Có cô hoặc bà lại có thêm núm vú hoặc vú nhỏ

Có thể đó là núm vú thứ ba, người ta gọi là vú phụ. Có người có cả đôi vú phụ. Các vú “lạc chỗ” này thường nằm dọc theo đường đi từ nách đến háng. Thường thì các núm vú hoặc vú này nằm gần nách và bị lầm với mụt ruồi. Khi có kinh hoặc đang có thai, vú phụ có thể hơi căng đau và đôi khi ứa sữa. Có người khó chịu hoặc ái ngại vì các cơ quan phụ này và nài nỉ bác sĩ cắt bỏ. Nhưng thật ra thì đây chẳng phải là bệnh và cũng chẳng có nguy hiểm, chẳng qua là dấu vết còn sót lại của thời kỳ thai phôi trong bụng mẹ.


Các bệnh lành của vú

-  Đau vú
    •  Đau theo kỳ kinh
    •  Đau không liên hệ kỳ kinh
        + Đau thành ngực
        + Đau vú

-  Tiết dịch núm vú
    •  Tiết sữa
    •  Tiết dịch
        + một ống: Dãn ống sữa, bướu nhú trong ống, ung thư
        + nhiều ống: Dãn ống sữa, thay đổi sợi bọc

-  Một hạt trong vú
    •  Tuổi dưới 30, hột mềm, chắc: Bướu sợi tuyến, bướu diệp thể
    •  Tuổi 30-50, hột chắc, mập mờ: Bướu sợi tuyến, nang, thay đổi sợi bọc, tăng sản ống tuyến, tăng sản ống tuyến không điển hình
    •  Tuổi trên 50, hột chắc, mập mờ: Nang, ung thư vú khu trú tại chỗ hoặc xâm lấn
-  Nhiều chỗ lộm cộm trong vú: Thay đổi sợi bọc

DocDetailViewing